Giai thoại 50 năm một chặng đường nửa thế kỷ
Thứ bảy - 19/10/2019 14:06
Cách đây 50 năm tại mảnh đất này, rừng núi hoang vu, mây mù che phủ vào mùa đông, cái nắng, cái gió khắc nghiệt tràn về vào mùa hè. Mảnh đất hoang vu chưa có bước chân người đặt tới….
Trong giai đoạn ấy, Đất nước ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ỏ Miền Nam.

Nghe theo tiếng gọi thiêng liên của Tổ quốc, lớp lớp thanh niên ở các miền quê Thái bình, Nam hà, Vĩnh phú, Hà tây và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ kính yêu, nối tiếp lên đường đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Sơn La với một khí phách hào hùng của dân tộc. Mảnh đất hoang vu nơi đây đã được đón 23 chiến sỹ cách mạng kiên trung được xuất ngũ từ Bộ đội Điện biên và mảnh đất được đặt tên là Nông trường quốc doanh Chiềng Ve chính thức từ ngày 16/10/1969.
Trong những năm đầu xây dựng Nông trưởng, với bao khó khăn vất vả nhọc nhằn, xong dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự đoàn kết và quyết tâm cao của tập thể CBCNVC Nông trường, mảnh đất nơi đây đã dần thay da đổi thịt.
Sướng vui thay mảnh đất của ta
Cuộc sống tưng bừng đổi sắc thay da
Ta nghe rõ mỗi giờ, mỗi phút…
Từ những đồi lau lách sậy đã trở thành những đồi bậc thang hình thành nên những đồi chè. Những thung lũng, triền đồi hoang vu, cỏ dại um tùm nhường dần chỗ cho những ngôi nhà bằng tre, nứa, tác xi tuy đơn sơ nhưng chứa đậm tỉnh cảm của con người với vùng đất này.
Bàn tay ta làm nên tất cả.
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
“Bài ca Vỡ Đất – Thơ Hoàng Trung Thông”
Đến năm 1978 một nhà máy chế biến được đặt cách trung tâm Nông trường 600m và hiện nay là địa danh của tiểu khu 6 xã Chiềng Sơn. Nhà máy với diện tích 14000m2 công suất 13 tấn chè tươi/ngày.
Nhịp điệu của cuộc sống cùng với hương chè đã gắn kết bao thế hệ CBCNVC ra sức thi đua phấn đấu xây dựng Nông trường ngày càng lớn mạnh.
Đến năm 1985 tập thể CBCNVC Nông trường vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương Lao động hạng 3. Thật là vinh dự.
Cuộc sống lớn có đôi mắt Đảng
Mỗi bước đi gần, nâng ước mơ xa
(Bài ca Xuân 71- Thơ Tố Hữu)
Bài ca: Chiềng Ve quê tôi đổi mới là hiện thân về sự đổi mới của Nông trường,
Đây Chiềng Ve, nông trường tôi, xưa kia rừng núi âm u lá cây ngập lối muôn thú rừng đi, nhưng ngày nay Nông trường tôi ngô khoai sắn bao đồi nương bát ngát chân trờ với những nương chè. Nông trường tôi đã lớn lên trong, hoà nhịp trong, nhịp trong sống mới. Hàng ngày nghe tiếng ca của máy, tiếng hát yêu đời của Nông trường tôi. Nhìn tương lai lòng tôi chan chứa yêu mến Nông trường với bao tấm lòng.
Sau 20 năm hoạt động, thì từ năm 1990 đến 1997 nông trường chè Chiềng Ve rơi vào tình trạng sản xuất xuất kinh doanh thua lỗ liên tục, nợ ngân hàng không thanh toán được, đời sống công nhân và người lao động khó khăn, buộc Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La phải ra quyết định số 965 vào tháng 7/1997 đình chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trường Chiềng Ve.

Trước lợi thế về điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu… phù hợp với khả năng phát triển vùng chè chính là điều kiện quyết định để ngày 23/01/1998, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La ra thông báo số 53/TB-UBND về việc khôi phục lại sản xuất kinh doanh của nông trường chè Chiềng Ve. Nông trường chè Chiềng Ve chính thức được “hồi sinh” từ đây.
Cùng với việc “hồi sinh” nông trường Chiềng Ve, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã tổ chức lại sản xuất, thay đổi máy móc thiết bị tiên tiến để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Tổ chức tập huấn cho công nhân thêm kỹ thuật về chế biến chè, chăm lo đời sống của công nhân nông trường, công nhân trồng, chế biến chè… Đặc biệt là tổ chức đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, cải tạo đồng ruộng, chú trọng đến công tác thâm canh cây chè để đưa năng suất chè lên cao, giá cả thu mua chè sau khi trừ các chi phí luôn đảm bảo cho người sản xuất chè búp tươi luôn có lãi. Công ty chủ động ứng trước phân bón cho người trồng chè; tăng cường kiểm tra, giám sát, hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật để người trồng chè tăng năng suất cây chè, đầu tư vào vườn chè…Kết quả sản xuất kinh doanh những năm tiếp theo luôn hoàn thành và vượt mức những năm trước, đời sống cán bộ, công nhân và người lao động được nâng cao. Điều này cho thấy, không chỉ “hồi sinh” mà nông trường Chè Chiềng Ve đã đứng vững, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, bước đầu hình thành và mở rộng vùng nguyên liệu.
Thực hiện việc sắp xếp đổi mới hoạt động các nông lâm trường quốc doanh, ngày 28/7/2005, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã có quyết định số 2222/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án và chuyển nông trường chè Chiềng Ve Sơn La thành công ty cổ phần. Nông trường chè Chiềng ve chính thức trở thành Công ty Cổ phần Chè Chiềng Ve theo hình thức cổ phần hóa sở hữu 100% là vốn đóng góp của cổ đông mà không có phần vốn nhà nước và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/2006.

Là doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, thuộc địa bàn miền núi, điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn, địa hình đồi dốc, giáp biên giới Việt-Lào, nhưng từ sau cổ phần hóa công ty cổ phần chè Chiềng Ve luôn nộp ngân sách, đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ hàng năm không có nợ năm trước sang năm sau. Phong trào thi đưa được giữ vững liên tục, từ khi thành lập đến năm 2017 luôn đạt cờ thi đua xuất sắc của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, năm 2006 và năm 2009 công ty đã phấn đấu đạt được cờ thi đua xuất sắc của Chính phủ. Nhiều tập thể và cá nhân được thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh tặng bằng khen..
Ông Hoàng Kháng, Giám đốc công ty Cổ phần Chè Chiềng Ve Mộc Châu, người 47 năm gắn bó với nông trường Chè chia sẻ: 6 năm cổ phần hóa là bước đột phá tạo ra sự phát triển vượt bậc của công ty với doanh thu tăng gấp 5,2 lần so với trước khi cổ phần hóa, tiền lương cũng tăng 4,5 lần đạt mức bình quân gần 6 triệu đồng/người/tháng.

Đặc biệt, nếu trước cổ phần hóa sản lượng chè búp tươi chỉ đạt vài trăm tấn với giá hơn 2.000 đồng/kg thì năm 2019 đã nâng lên hơn 4.000 tấn. Giá chè búp tươi được công ty thu mua với giá bình quân 6.500 đồng/kg, mức cao nhất trong khu vực trồng chè phía Bắc. Đặc biệt, sau cổ phần hóa, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nâng lên rõ rệt, đóng góp vào thu ngân sách địa phương, mức cổ tức của doanh nghiệp trung bình ở mức 20%, đã thúc đẩy người lao động gắn bó với nông trường với doanh nghiệp, sống chết với nghề trồng chè. Hiện nay, sản lượng chè do công ty sản xuất được tiêu thụ mạnh trên thị trường, trong đó 95% sản phẩm được xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Thời gian tới, công ty đẩy mạnh và hướng tới các sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước, từng bước tạo uy tín và xây dựng thương hiệu trên thị trường nội địa.